Vai trò của Sở GTVT trong việc quản lý dữ liệu giám sát hành trình
Content on this page requires a newer version of Adobe Flash Player.

Get Adobe Flash player

Tin tức

Vai trò của Sở GTVT trong việc quản lý dữ liệu giám sát hành trình

Thứ sáu, 12/12/2014 | 11:12 GMT+7
  

Theo thông tư số: 09/2015/TT-BGTVT của Bộ Giao thông vận tải (có hiệu lực từ 1/6/2015) về Quy định về cung cấp, quản lý và sử dụng dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình (GSHT) của xe ô tô  thì các Sở giao thông vận tại các tỉnh sẽ được phân cấp quyền hạn và trách nhiệm cụ thể như sau:

 

Vai trò của Sở GTVT trong việc quản lý dữ liệu giám sát hành trình

Qua dữ liệu giám sát hành trình, Sở GTVT quản lý phương tiện minh bạch, công khai, chính xác hơn. (Ảnh minh họa)

 

Trong mục 2, điều 7 quy định rõ: Sở Giao thông vận tải thực hiện việc khai thác, quản lý dữ liệu về biển số xe, trọng tải xe (số lượng hành khách hoặc khối lượng hàng chuyên chở cho phép tham gia giao thông), tên đơn vị kinh doanh vận tải và các dữ liệu vi phạm về hành trình, tốc độ xe chạy, thời gian lái xe liên tục, thời gian làm việc của lái xe trong ngày của từng đơn vị kinh doanh vận tải thuộc Sở trực tiếp quản lý thông qua tài khoản đăng nhập và mật khẩu được cung cấp để truy cập vào hệ thống thông tin của Tổng cục Đường bộ Việt Nam.

Các sở GTVT có trách nhiệm quản lý qua dữ liệu giám sát hành trình:

1. Bố trí cán bộ theo dõi, khai thác và sử dụng dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình trên hệ thống thông tin của Tổng cục Đường bộ Việt Nam, của các đơn vị kinh doanh vận tải tại địa phương để phục vụ công tác quản lý vận tải bao gồm:

a) Quản lý, thanh tra, kiểm tra hoạt động vận tải;

b) Theo dõi, chấn chỉnh, xử lý các vi phạm trong hoạt động vận tải đối với các đơn vị kinh doanh vận tải;

c) Công tác đánh giá đơn vị kinh doanh vận tải tại địa phương trong việc chấp hành các quy định về quản lý vận tải;

d) Công tác điều tra, giải quyết tai nạn giao thông của các cơ quan có thẩm quyền khi có yêu cầu.

2. Kiểm tra, cập nhật, đối chiếu thông tin đảm bảo tính chính xác của các dữ liệu do các đơn vị kinh doanh vận tải và đơn vị cung cấp dịch vụ truyền về Tổng cục Đường bộ Việt Nam để khai thác và sử dụng dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình, bao gồm: tên Sở Giao thông vận tải; tên đơn vị kinh doanh vận tải; biển số xe; trọng tải xe (số lượng hành khách hoặc khối lượng hàng chuyên chở cho phép tham gia giao thông); loại hình kinh doanh của các đơn vị kinh doanh vận tải và số lượng phương tiện vận tải thuộc đối tượng phải lắp đặt thiết bị giám sát hành trình.

3. Bảo mật tên đăng nhập và mật khẩu truy cập hệ thống thông tin, khai thác và sử dụng dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình trên hệ thống thông tin của Tổng cục Đường bộ Việt Nam.

4. Yêu cầu đơn vị kinh doanh vận tải thuộc địa phương quản lý tiến hành xử lý các hành vi vi phạm của lái xe; theo dõi, đôn đốc các đơn vị báo cáo kết quả xử lý.

5. Xử lý hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xử lý trách nhiệm đối với đơn vị kinh doanh vận tải trên địa bàn theo quy định.

6. Xử lý trách nhiệm cá nhân, tổ chức liên quan đến việc cung cấp, quản lý và sử dụng dữ liệu từ thiết bị giám sát hành trình trong quản lý, theo dõi, khai thác, sử dụng dữ liệu thiết bị giám sát hành trình.

7. Công bố dữ liệu về tọa độ, hướng của các biển báo tốc độ, khu vực hạn chế tốc độ trên các tuyến đường địa phương quản lý trên trang Thông tin điện tử của Sở Giao thông vận tải.

8. Báo cáo định kỳ hàng quý, 6 tháng, năm hoặc đột xuất theo yêu cầu của Tổng cục Đường bộ Việt Nam về tình hình vi phạm và kết quả xử lý vi phạm của địa phương và đơn vị kinh doanh vận tải trên địa bàn.

Như vậy theo các điều khoản trên thì sở Giao thông vận tải sẽ là đơn vị trực tiếp giám sát và xử phạt các doanh nghiệp hoặc cá nhân mà vi phạm quy định về việc lắp đặt và sử dụng giám sát hành trình.

Xử phạt hơn 11.000 phương tiện qua thiết bị giám sát hành trình

Tính đến thời điểm hiện tại, Các Sở giao thông vận tải đã phối hợp với các đơn vị, ban ngành liên quan thực hiện tốt trách nhiệm của mình trong việc quản lý, giám sát các doanh nghiệp vận tải thông qua hệ thống giám sát hành trình.

Cụ thể, trong năm 2016 vừa qua, các Sở Giao thông Vận tải xử lý vi phạm đối với 11.362 phương tiện thông qua việc tổng hợp, phân tích tình hình vi phạm từ dữ liệu thiết bị giám sát hành trình.

Trong đó, qua dữ liệu giám sát hành trình, lực lượng chức năng thu hồi phù hiệu, đình chỉ khai thác tuyến với thời hạn một tháng là 9.799 xe; từ chối cấp phù hiệu là 1.553 xe, thu hồi giấy phép kinh doanh vận tải 10 đơn vị. Chỉ tính riêng trong tháng 12/2016, các Sở Giao thông Vận tải địa phương đã xử lý 1.871 xe trong đó, thu hồi phù hiệu, đình chỉ khai thác tuyến với thời hạn một tháng là 1.607 xe; từ chối cấp phù hiệu là 264 xe.

Nhằm nâng cao hiệu quản lý phương tiện qua dữ liệu giám sát hành trình, Bộ GTVT đã có văn bản nhắc nhở các địa phương xử nghiêm các phương tiện, đơn vị vận tải, đơn vị cung cấp thiết bị và dịch vụ giám sát hành trình không truyền dữ liệu theo đúng quy định. 

Trong năm 2017, các sở Giao thông vận tải sẽ tiếp tục “mạnh tay” đối với việc giám sát và xử lý những doanh nghiệp hoặc cá nhân vận tải vi phạm về việc lắp đặt và sử dụng thiết bị GSHT nhằm đảm bảo an toàn giao thông.